Hiển thị các bài đăng có nhãn Quốc Phòng - An Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quốc Phòng - An Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng

3/2/16

Quan điểm của Việt Nam về việc Mỹ tuần tra gần đảo Tri Tôn!

Mỹ tuần tra quanh Tri Tôn, đó rõ ràng là một hành động mang tính thách thức quân sự. Cái này sẽ có nhiều hệ lụy, nhưng dù sao, ý nghĩ Mỹ đến là để "cứu VN'" đã thành cmn nếp trong đầu bọn lều báo óc bò.Đang trong giai đoạn chuyển giao và củng cố quyền lực của VN, bây giờ, chúng làm thế, TQ lại ồ ạt thêm một đợt thiết bị QS khủng nữa xuống, lấy cớ đối chọi Mỹ, khi nội bộ của ta nguôi nguôi, thì thách thức đã to đùng khi "sự đã rồi".
Nhiều báo chí lầm tưởng, tuyên bố của VN là ủng hộ
Mỹ đi tuần tra ở vị trí vừa rồi, (cụ thể thấy như Zing đã giật tít to tướng, k biết sửa chưa?) thực ra không hề. VN trước hết kđ chủ quyền ở HS-TS và chỉ ủng hộ quyền tự do "đi lại vô hại"của các bên ở Biển Đông, nhưng hành động của Mỹ là TUẦN TRA, nghĩa là hành động có tính chất đối kháng, quân sự, nó chỉ phức tạp thêm tình hình và VN không ủng hộ.
Tuyên bố đó nghĩa là: "Đấy là đất tao, đi lại thì ok nhưng hành động quân sự thì đéo ổn". Thế mà thế mẹ nào báo VN lại dịch thành "VN ủng hộ Mỹ tuần tra gần Tri Tôn".

Theo Navy Times, các quan chức Mỹ cho biết sẽ có thêm nhiều cuộc tuần tra bằng tàu và máy bay của hải quân tại Biển Đông vào năm 2016. Các chuyên gia pháp lý nói rằng tuần tra là cách duy nhất để bảo vệ quyền tự do đi lại, đang bị thách thức bởi Trung Quốc.
"Chúng tôi cần phải nhắc lại rằng hải quân Mỹ đã tiến hành hoạt động tự do hàng hải từ thời tổng thống Jimmy Carter còn đương nhiệm", Craig Allen, một giáo sư về vấn đề hàng hải và môi trường biển tại Đại học luật Washington nói. "Nếu bạn cứ mặc nhận yêu sách của người khác, bạn có thể đánh mất quyền của mình".
Hạm đội 7 của hải quân Mỹ, đóng tại Nhật Bản, vốn thường xuyên tuần tra trên Biển Đông và các quốc gia khác, bao gồm cả Nhật, đang xem xét tham gia hoạt động thể hiện quyền tự do hàng hải. Tàu chiến đấu duyên hải Forth Worth, đóng tại Singapore, cũng có thể được giao nhiệm vụ, nhưng các quan chức hải quân nói rằng khả năng này khó xảy ra, vì hải quân có xu hướng điều động tàu chiến ở tuyến đầu như tàu khu trục và tàu tuần dương vào vùng biển tranh chấp.
Vấn đề Biển Đông dự đoán sẽ nóng lên trong năm 2016, vì Tòa án Trọng tài Thường trực ở The Hague, Hà Lan, đã đồng ý xử vụ Philippines kiện Trung Quốc vì yêu sách "đường lưỡi bò". Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền với hầu hết diện tích Biển Đông dựa trên "đường lưỡi bò" hay "đường 9 đoạn" nước này tự đưa ra, đi vào sát bờ của các nước láng giềng như Philippines, Việt Nam, Brunei và Malaysia. Nước này tìm cách hiện thực hóa yêu sách chủ quyền bằng các hoạt động cải tạo và xây dựng trên một số bãi đá ở quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam.
Hồi tháng 10, tàu khu trục USS Lassen của hải quân Mỹ đi vào vùng 12 hải lý quanh đảo nhân tạo Trung Quốc xây phi pháp ở Trường Sa. Hai máy bay B-52 cũng bay gần các đảo nhân tạo hồi tháng trước, nhưng không đi vào phạm vi 12 hải lý.
Máy bay B-52 Mỹ tuần trước vô tình bay trong phạm vi 12 hải lý quanh đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng trái phép ở đá Châu Viên. Trung Quốc tức giận trước động thái này, nói rằng Mỹ có hành vi "khiêu khích quân sự nghiêm trọng".
Việt Nam nhiều lần khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động xây dựng, mở rộng của nước ngoài ở hai quần đảo này mà không được phép của chính phủ Việt Nam đều phi pháp và vô giá trị.

20/1/16

LẠI CHUYỆN VINH DANH ĐÁM LÍNH CỜ VÀNG CHẾT TRẬN!

KhanhKim@

Tử sỹ VNCH chết ở Hoàng sa Liệu có xứng đáng được tôn vinh thành Anh hùng Liệt sỹ

Ngày 17/1/2016 tại đảo Lý Sơn tỉnh Quảng ngãi, trong diễn văn lễ khởi công xây dựng Tượng đài Nghĩa sỹ Hoàng Sa. Ông Đào Ngọc Tùng Chủ Tịch TLĐLĐVN nói “42 năm trước, ngày 19.1.1974, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, 74 sĩ quan, binh sĩ quân đội Việt Nam Cộng hòa đã kiên cường chiến đấu bảo vệ đảo và hy sinh vĩnh viễn nằm lại ở vùng biển Hoàng Sa. Máu của những người con đất Việt dù trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau đã đổ xuống để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Ghi nhận công ơn to lớn đó, chia sẻ nỗi đau của những người vợ, người con có người thân đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa 1974 và Trường Sa 1988 là việc làm rất cần thiết của cả cộng đồng và xã hội”.

Được thể, một số báo lề trái và bọn phản động nước ngoài, những kẻ đã từng một thời ôm chân ngoại bang, được dịp hả hê coi đó “Chính quyền đã công nhận người lính VNCH đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc”, một số lều báo trong nước được cho là Báo chí cách mạng cũng không biệt nổi trắng đen, “Nhìn Gà hóa Quốc, biến Cú thành Công”, "vàng thau lẫn lộn" khi vô tư, gọi các chiến sỹ CM đã hy sinh vì dân tộc với tử sỹ của chính quyền Ngụy tay sai ngoại bang VNCH cùng là Liệt sỹ.




Người viết, khẳng định, vinh danh Tử sỹ VNCH thành các anh hùng liệt sỹ của dân tộc VN là không thể, không bao giờ. Bởi lẽ chính họ là đại diện cho một chính quyền tay sai, bán nước VNCH. Chúng ta tự hỏi tại sao lại phải vinh danh những Tử sỹ VNCH ở Hoàng Sa? Nếu làm như thế chẳng khác nào chúng ta quên đi nhân tâm của đại đa số người dân trong nước. Đặc biệt là hàng triệu gia đình của hai miền Nam Bắc đã mất người thân dưới họng súng của quân xâm lược và bè lũ tay sai của chúng là VNCH.

Sự thật phải là sự thật, càng không thể đánh đồng lẫn lộn bản chất phải trái, trắng, đen, vàng thau lẫn lộn. Bởi vậy chúng ta vẫn có thể ghi nhận và tổ chức lễ cầu siêu cho các binh lính VNCH tử trận ở HS nhưng không thể bắt cả dân tộc đã chịu quá nhiều đau thương do con người của chế độ VNCH gây ra. “Vinh danh” có nghĩa là có tội với tổ tiên, với cha ông và các anh hùng liệt sỹ của CM đã bị chính người lính VNCH bắn chết. "Vinh danh" lính VNCH là sỉ nhục dân tộc.

Xin được nhắc lại, viêc “Vinh danh” đó sẽ dẫn tới thừa nhận sự hợp pháp của chế độ Ngụy quân, Ngụy quyền Sài gòn, một chế độ tay sai Đế quốc, biến cuộc chiến tranh chính nghĩa giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lăng của ngoại bang, nay trở thành “Nội chiến”, “Miền Bắc xâm lược miền Nam”. Đó là cái cớ để Quân cán chính VNCH (NVQG) và những tên, cơ hội chính trị, đòi xét lại lịch sử. Họ gọi kháng chiến chống Mỹ là “Nội chiến”. Nếu là “Nội chiến” theo cái lý của họ thì NVQG (VNCH) sẽ chùi được cái “Nhãn” tay sai bán nước, sẵn tiện họ xóa luôn được cái tội phản quốc mà lịch sử đã từng phán xét và người Pháp cùng người Mỹ cũng xóa luôn được cái “Án” xâm lược VN.

Chiến tranh đã qua đi, vẫn còn đó hàng triệu người con ưu tú của dân tộc thuộc các lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Dân quân, Du kích và nhất là lực lượng Thanh niên xung phong đã chịu quá nhiều mất mát, đau thương trong chiến tranh. Là những chiến sỹ Cách mạng, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, họ không hề đòi hỏi bất cứ điều gì, nhưng họ sẽ nghĩ sao khi những kẻ cam tâm theo giặc gây ra chiến tranh, chống lại dân tộc, nay lại được “Vinh danh”? Những hy sinh của các chiến sỹ CM cho cuộc kháng chiến, giành độc lập, thống nhất non sông liệu có còn ý nghĩa hay vô nghĩa khi những người con ưu tú, người anh hùng thật sự có khi còn bị bị lãng quên, kẻ gây ra tội ác với dân tộc lại được “Vinh danh”.

Qua 4000 năm lịch sử giữ nước và dựng nước, dân tộc Việt Nam, không thiếu những tấm gương rạng ngời về đức "Hy sinh vì dân tộc". Chủ quyền của đất nước đã từng được khẳng định và xác lập qua nhiều triều đại (chứ không phải sự kiện ngày 19/1/1974) mà chúng ta không thể khẳng định được chủ quyền, mà phải mà phải chịu nhún nhường, “Gượng ép” đi tìm chút le lói ánh hào quang ở những "Tấm gương đầy hoen ố” là tử sỹ của một chế độ tay sai, bán nước để mà soi, mà ngắm mà “Vinh danh” liệu có đáng hay không? Như thế liệu có đủ để lấy họ ra mà tôn vinh, làm "Tấm gương" cho hậu thế? biến kẻ bán nước trở thành người yêu nước, là các anh hùng Liệt sỹ “Cõng rắn cắn gà nhà”.

Thật là đáng trách và đáng tiếc cho những ai đó còn đang rất mơ hồ, và cải lương với một sự kiện chính trị nhạy cảm. 

Ngày 19/1/2016
Nguồn:blogtrelang

29/11/15

TRÊN MỌI PHƯƠNG DIỆN - TRUNG QUỐC LUÔN LÀ KẺ ĐUỐI LÝ

Hoa đất
Tòa án trọng tài La Haye bác bỏ lập luận về chủ quyền của Trung Quốc

Cái lý của Trung Quốc đưa ra nhằm biện minh cho các hoạt động bành trướng nhằm độc chiếm Biển Đông thời gian qua nghe khá cũ kỹ. Từ các học giả có tiếng tăm đến đội ngũ lãnh đạo quốc gia này đều đồng nhất một lý lẽ rằng, Trung Quốc có chủ quyền đối với Biển Đông từ thời kỳ cổ đại và chính phủ nước này phải có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền và quyền lợi hàng hải của mình.

Ông Tập Cận Bình còn ngạo mạn đắc chí rằng, Trung Quốc hoan nghênh các quốc gia ngoài ASEAN có sự đóng góp tích cực đối với hòa bình và phát triển tại châu Á, đồng thời giải thích rằng, những hoạt động xây dựng của Bắc Kinh trên Biển Đông là nhằm mục đích hòa bình.

Để ngụy biện cho hành động của Trung Quốc trên Biển Đông, ông Tập còn khẳng định rằng môi trường ổn định trên Biển Đông là “lợi ích chung của tất cả các nước châu Á”. Thực chất đây là những lập luận và dẫn chứng phi lý thiếu căn cứ khoa học.

Trong khi Việt Nam có đầy đủ các chứng lý phù hợp với thông lệ và luật pháp quốc tế về chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì cách hành xử của Trung Quốc lại là ỷ vào sức mạnh để áp chế và lợi dụng khi Việt Nam gặp khó khăn thì tấn công chiếm đoạt kết hợp với việc đưa ra những cái gọi là chứng cứ không thể chối cãi theo kiểu “đánh lận con đen” đầy hài hước.


Từ thời cổ đại, phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc chưa vượt quá đảo Hải Nam chứ nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa. Khi lập luận như vậy họ cũng đã cố tình quên rằng cả nước Trung Hoa đã từng nằm dưới ách cai trị của người Mông Cổ từ năm 1271 đến năm 1368. Theo cách lý sự đó, người Mông Cổ hoàn toàn có thể đòi chủ quyền lịch sử đối với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc. Cho đến tận đầu thế kỷ XX, trong lúc phải đối phó với thực dân Anh, các cuộc khởi nghĩa yêu nước, chính quyền phong kiến Trung Quốc không biết gì và cũng không quan tâm đến Biển Đông mà tập trung vào việc cai trị và giữ yên chế độ toàn trị của mình. 

Thủy quân của nhà Thanh được xem là mạnh nhất vào thời điểm bấy giờ cũng chưa thể vươn tầm ra ngoài Biển Đông với ý tưởng độc chiếm các đảo nơi này. Nhà cầm quyền Trung Quốc lúc đấy chỉ chăm chăm giữ “quyền lực” của mình, đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân mà chưa có suy nghĩ, động thái để độc chiếm Biển Đông. Bản đồ của Trung Hoa Dân quốc xuất bản năm 1916 và sách giáo khoa dạy học trò của họ vào thời ấy vẫn nói cực nam của Trung Hoa là đảo Hải Nam. Cái mà ông Tập nhắc đi nhắc lại rằng, nếu nước này không thể hiện chủ quyền của mình với Biển Đông thì sẽ có lỗi với tổ tiên thực sự chỉ là những ví dụ hài hước mà thôi. Bởi vì thực sự rằng, Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền hợp pháp đối với Hoàng Sa và Trường Sa. 

Sau khi đã ký thông cáo chung Thượng Hải với Hoa Kỳ vào năm 1972 với những đổi chác vô cùng tệ hại trong toan tính chính trị của các nước lớn, năm 1974 lợi dụng tình thế chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đang trong giai đoạn vô cùng ác liệt, Trung Quốc đã cho quân đội tiến chiếm trái phép toàn bộ các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. 

Bộ mặt ăn cướp đã lộ rõ rằng, kẻ xấu bao giờ cũng nói lời ngon ngọt và không từ một thủ đoạn nào để đạt được lợi ích. Ngày 24-11, Tòa trọng tài thường trực ở La Haye (Hà Lan) cũng đã bác bỏ việc Trung Quốc đưa ra “chứng cứ” để khẳng định lập trường của mình. 

Như vậy, có thể khẳng định rằng, cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là sự ngụy biện phi lý của những kẻ lấy mạnh hiếp yếu mà thôi.


15/10/15

NHỮNG VỊ KHÁCH KHÔNG MỜI TRÊN BẦU TRỜI VIỆT NAM!

Bị bắt buộc phải bay trên bầu trời đầy lửa đạn phòng không của miền Bắc nước ta, may mắn thoát chết xuống được đến đất, những phi công Mỹ trở thành “vị khách không mời” rơi xuống Việt Nam.

 
 Theo Giáo sư Benjamin F.SChemmer – một sỹ quan cấp cao của Lầu Năm Góc thống kê: 85% các Phi công Mỹ đã bay trên 15 phi vụ ném bom miền Bắc. Họ đã gây ra không ít tội ác trước khi số phận được quyết định đến “an dưỡng” tại Hỏa Lò của Hà Nội.
Evertt Alvarez
Trung úy hải quân Evertt Alvarez là một trong những người nổi tiếng nhất nước Mỹ trong những năm cuối của thập niên 60. Nhưng không phải anh ta đã có một hành động anh hùng, một khả năng phi thường, hay một chiến tích oanh liệt nào đó; mà đơn giản Evertt Alvarez chính là viên Phi công Mỹ đầu tiên bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn rơi và bị bắt làm tù binh.
Ngày 5/8/1964, sau “Sự kiện Vịnh Bắc bộ” do Mỹ cố tình dựng lên, theo lệnh của Tổng thống Lyndon B.Jonson, Evertt Alvarez đã lái chiếc máy bay A4D (được mệnh danh là “Chim ưng nhà trời”) đi ném bom Quảng Ninh – Hải Phòng. Trước lưới lửa phòng không dày đặc, hai chiếc phi cơ hiện đại của phòng không quân Mỹ đã trúng đạn và bốc cháy. Evertt Alvarez bị tóm cổ ngay tức khắc khi thoát khỏi cái lò lửa ngùn ngụt, nhảy dù xuống biển.
Năm đó Evertt Alvarez mới có 26 tuổi, phải ngồi trong buồng giam số 6, Hỏa Lò gần 10 năm. Anh là người có “thâm niên” tù binh cao nhất ở Việt Nam. Bị bắt giam chưa được bao lâu, anh ta đã phải dở khóc, dở cười khi nhận được tin cô vợ trẻ của mình ở Mỹ đòi tòa án cho ly dị với chồng để đi tìm hạnh phúc mới.
Richard “Pop” Kiern
“Pop” Kiern là một trong 61 phi công Mỹ bị Việt Nam bắt vào năm 1961. Máy bay của anh ta bị bắn rơi vào ngày 24/7/1965, khi nhảy dù xuống đất thì bị bắt sống.
Đây là lần thứ hai “Pop” Kiern là tù binh. Lần đầu, trong Chiến tranh Thế giới thứ II, anh ta là phi công lái máy bay B17 và bị bắn rơi trong chuyến công vụ đầu tiên tại mặt trận Đức. “Pop” Kiern đã phải nằm ở trại giam của Đức Quốc xã 9 tháng. Nhưng đó là trại giam của bọn phát xít, và anh ta đã chiến đấu trong lực lượng của quân Đồng Minh. Khi sang Việt Nam, “Pop” Kiern lái chiếc F105 “Thần Sấm” đã bị bắn rơi, bị bắt làm tù binh ngày thứ ba sau khi đến chiến trường này. Mãi đến năm 1973, sau khi được trao trả, anh ta đã chua chát thú nhận: “Tôi chỉ thực nghiệm vài giờ bay chiến đấu theo mệnh lệnh của cấp trên, còn sau đó thì làm tù binh gần 10 năm trời. Hình ảnh của Không lực Hoa Kì sẽ kiêu hùng hơn, nếu không có những chiếc máy bay bị lưới lửa phòng không Việt Nam bắn rơi và những tù binh như chúng tôi”.
James Robinson Risner
So với Trung tá “Pop” Kiern, cuộc đời cầm lái của Trung tá James Robinson Risner có vẻ oanh liệt hơn. Là một người hùng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, với 109 phi vụ thành công và hơn 3.000 giờ bay chiến đấu, Risner đã bắn hạ được 8 phi cơ của đối phương trong các cuộc không chiến ác liệt. Nhưng khi sang chiến trường Việt Nam, mới bay đến phi vụ thứ 5 thì anh ta đã bị bắn cháy, Risner lái máy bay lao ra biển và nhảy dù xuống nước.
Ngày 16/9/1965, Risner lái chiếc Thần Sấm F105D sa vào lưới lửa phòng không của bộ đội Việt Nam tại đất Đò Lèn (Thanh Hóa). Sau khi thú nhận hết tội lỗi của mình đã gây ra cho nhân dân Việt Nam trước các nhà báo, anh ta đã nằm “an dưỡng” trong trại giam 7 năm rưỡi cho đến khi được trao trả..
Một điều cần phải nói thêm là: Khi bộ đội ta bắn rơi và bị bắt làm tù binh, “người hùng” Mỹ này đã khai báo ngoan ngoãn và thành khẩn đến mức ngạc nhiên. Nghe nói, sau ngày được trao trả, anh ta quay lại tiếp tục phục vụ trong quân đội Mỹ và còn được vinh thăng tới cấp Thượng tướng.
Jonh MCCain
Trong số các vị khách không mời từ trên trời rơi xuống, không thể không kể đến một nhân vật khá đặc biệt, một “cậu ấm” của quân đội Mỹ. Đó chính là thiếu tá hải quân John MCCain, con trai của đại tướng John S.McCain III. Máy bay của “cậu ấm” này đã bị lưới lửa phòng không Thủ đô ta bắn trúng, rơi thẳng đứng xuống nhà máy điện yên phụ.
“Cậu ấm” bị thương rất nặng nhưng cũng đã kịp nhảy dù và rơi tõm xuống hồ Trúc Bạch. Khi người ta kịp tới để vớt lên, “cậu ấm” chỉ còn thoi thóp như một cái xác không hồn. Ba tháng sau ngày McCain con bị bắn rơi, McCain bố được Tổng thống Mỹ ký quyết định thăng chức Đô đốc chỉ huy trưởng các lực lượng tác chiến khu vực Thái Bình Dương để tiếp tục tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
McCain con được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, được chăm sóc thuốc men theo chế độ đặc biệt và 9 tháng sau, 7/1968, anh ta được trao trả về phía Mỹ.
Sau ngày được trao trả, McCain đã trở thành Thượng nghị sĩ Mỹ; thậm chí còn là ứng cử viên Tổng thống. Ngài Thượng nghị sĩ John Sidney McCain cũng đã nhiều lần trở lại thăm Việt Nam, thăm lại nơi mình đã bị bắn rơi và cả phòng giam mình đã nằm những tháng ngày đằng đẵng.
Và còn nhiều, rất nhiều những vị khách không mời từ trên trời rơi xuống nữa. Tới cuối năm 1968, tổng cộng đã có 356 Phi công của Mỹ bị ta bắt làm tù binh. Phía Mỹ công bố: ngoài số may mắn được phía Việt Nam bắt đưa về trại giam, đã có 927 Phi công khác bị chết khi thi hành nhiệm vụ.
Cuối tháng 11/1970, Quân đội Mỹ đã sử dụng một số lượng lớn máy bay trực thăng, máy bay vận tải cùng hàng trăm máy bay phản lực chiến đấu khác hộ tống, phối hợp để đưa một đơn vị đặc nhiệm đến Sơn Tây nhằm giải thoát cho gần 100 Phi công Mỹ là tù binh bị bắn rơi tại miền Bắc Việt Nam.

14/10/15

Hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại xuyên TBD TPP và những vận hội cho Việt Nam!

Hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại xuyên TBD TPP và những vận hội cho Việt Nam!

Trước thành công của Việt Nam khi đàm phán và gia nhập thành công Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương TPP, Rận chủ Việt giống như lũ chó điên khát máu, nhảy xổ vào bình phẩm bằng những lời lẽ khó nghe, chúng đưa ra những nhận định loại trừ khả năng Việt Nam sẽ thành công với những hỗ trợ của TPP. Cũng như trước đây chúng từng bày ra những trò hề nhằm gây cản trở cho tiến trình đàm phán của Việt Nam cũng như bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trước bạn bè quốc tế. Với những trò hèn kế bẩn của mình, đám Rận chủ Việt đã thất bại hoàn toàn. Việt Nam đã đàm phán thành công TPP và mở ra một vận hội mới cho sự phát triển của Việt Nam, cũng như giáng một cái tát như trời giáng vào bộ mặt của đám Rận chủ Việt, những kẻ đang làm chó săn thuần phục Việt Tân và đám chống cộng cực đoan Nam Cali và quận Cam của bu Mẽo.
Mời đọc thêm:

Việt Nam đã hoàn tất đàm phán gia nhập TPP

Như vậy trải qua 5 năm đàm phán rất gay go, quyết liệt, các nước tham gia đàm phán đã tháo gỡ những nút thắt trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu sắc. Việt Nam đã chính thức gia nhập TPP là thành viên chính thức của Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương, được đánh giá là một Hiệp định thế kỷ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của Việt Nam nói riêng và cộng đồng kinh tế quốc tế nói chung.
zing_tpp_b_2Trưởng đoàn đàm phán 12 nước thành viên TPP họp báo công bố đạt được thỏa thuận cuối cùng tối 5/10 (giờ Hà Nội)(nguồn: internet)
Vào tối 5/10 theo giờ Hà Nội, đại diện Thương Mại Mỹ, Ông Michael Froman thông báo “Chúng tôi – các bộ trưởng thương mại của Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam – vui mừng thông báo rằng, chúng ta đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).Sau hơn 5 năm đối thoại tăng cường, chúng tôi đã đi tới thỏa thuận giúp hỗ trợ việc làm, thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững, phát triển toàn diện và đổi mới trên khắp khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Điều quan trọng nhất là thỏa thuận đã chạm tới mục tiêu mà chúng tôi đặt ra là hướng tới một hiệp định tham vọng, toàn diện. Những yếu tố này sẽ mang lại lợi ích cho công dân của các quốc gia thành viên”. Như vậy Hiệp định xuyên thế kỷ đã được thông qua tại Atlanta một điều khá bất ngờ đối với quốc tế và các nước thành viên tham gia đàm phán.
Đánh giá về sự kiện này, Đại diện Thương mại Australia Andrew Robb nói: “Thỏa thuận này hoàn toàn là bước chuyển biến lớn. Đây là thỏa thuận lớn nhất và tham vọng nhất liên quan đến các quốc gia và là thỏa thuận quan trọng nhất mà các nước đã đạt được trong 20 năm qua kể từ vòng đàm phán Uruguay. Tôi tin rằng nó sẽ định hình tương lai thế kỷ 21″. Như vậy có thể thấy rằng quốc tế nói chung và các thành viên gia nhập TPP nói riêng rất mong đợi vào những thành công của Hiệp định xuyên thế kỷ này, đối với Việt Nam đây cũng chính là vận hội để phát triển.
Tầm quan trọng của TPP đối với Việt Nam
Hiệp định TPP bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước… Theo Bộ Công Thương Việt NAm, TPP là một hiệp định toàn diện, chất lượng cao trên cơ sở cân bằng lợi ích và có lưu ý tới trình độ phát triển khác nhau giữa các nước tham gia. Hiệp định được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại tất cả các nước tham gia; tạo việc làm, giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân; thúc đẩy sáng tạo, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh; thúc đẩy minh bạch hóa và quản trị tốt; đồng thời củng cố các tiêu chuẩn về lao động và môi trường. 
Việt Nam đã phải trải qua hàng trăm vòng đàm phán vô cùng khốc liệt để giành được tấm vé vào TPP, đối với thị trường TPP theo đánh giá của các chuyên gia, khi Việt Nam là thành viên của TPP Việt Nam sẽ hưởng lợi lớn từ TPP do nhu cầu ngày càng gia tăng đối với hàng hóa dệt may và giày dép. Nghiên cứu của HSBC Việt Nam  chỉ ra rằng TPP có khả năng tăng thu nhập quốc dân của Việt Nam thêm 10% vào năm 2020. Về vấn đề dệt may của Việt Nam, ông Vũ Huy Hoàng Bộ trưởng Bộ Công thương cho biết: “Dệt may đóng vai trò rất quan trọng nền kinh tế chúng tôi. Khi vào TPP, ngành dệt may cũng có thể phát triển mạnh hơn nữa. Và điều này có thể giúp rất nhiều cho người nghèo Việt Nam, đóng góp khoảng 1 triệu lao động cho ngành này. Tôi cám ơn các nước TPP đã tạo điều kiện cho dệt may của Việt Nam.” Việt Nam hiện có lợi thế về ngành dệt may, đây sẽ là điều kiện thuận lợi để Việt Nam vươn xa hơn so với các nước trong khu vực trong cạnh tranh vấn đề dệt may vốn trước đây luôn bị lép vế trên trường quốc tế.
Về vấn đề lao động của Việt Nam, ông Vũ Huy Hoàng cũng phát biểu rằng “Lao động là một trong những vấn đề phức tạp và nhạy cảm nhất trong quá trình đàm phán với chúng tôi. Các điều kiện quy định trong TPP thì không phải điều kiện lao động của Mỹ hay của bất cứ nước nào mà là theo quy định lao động của tổ chức lao động quốc tế (ILO). Chúng tôi là một thành viên của ILO và chúng tôi cam kết thực hiện theo những quy định của ILO. Điều này thể hiện cam kết và sự sẵn sàng của chúng tôi đối với vấn đề này” với tiềm năng lao động của Việt Nam hiện nay với hơn 50 triệu lao động, rõ ràng đây là vận hội của Việt Nam, vấn đề là chúng ta sẽ tiếp cận để giải quyết vấn đề lao động như thế nào trong điều kiện lao động VN còn đa phần trình độ thấp, là “công nhân cổ xanh”, đây thực sự là một thách thức không nhỏ đối với Việt Nam khi tham gia và TPP.
Hoàn tất đàm phán hiệp định thế kỷ TPP
Ông Vũ Huy Hoàng – Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam
Về vấn đề các vướng mắc về thị trường, khi là thành viên của TPP Việt Nam sẽ không phải vất vả để đối phó như trước kia, theo ông Ô Sudhir Shetty – Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) khu vực Đông Á – Thái Bình Dương cho hay TPP sẽ giúp các quốc gia tiếp cận thị trường mà trước đây chưa tiếp cận được, tạo ra cú hích cho thương mại đầu tư. “TPP bao gồm một nhóm các nước lớn có trọng lực kinh tế. Khi các rào cản được xóa bỏ, dòng chảy thương mại sẽ tăng lên mạnh mẽ” một cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ để thoát khỏi bóng ma khủng hoảng ảm đạm đang bao trùm lên nền kinh tế Việt Nam kể từ sau cuộc Đại suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008.
Đánh giá về tiềm năng phát triển của Việt Nam sau khi gia nhập TPP, ông Sandeep Mahajan – chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi lớn khi Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết. Cụ thể ông nói “Nhóm 12 nước trong TPP đóng góp 40% GDP toàn cầu nên Việt Nam sẽ có thị trường rộng hơn. Đây là cơ hội lớn, chúng tôi đã có những dự tính tác động khá tích cực. GDP có thể tăng thêm 8-10% đến năm 2030, thậm chí còn nhiều hơn”.
Với vận hội mới từ TPP chúng ta tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp đối với Việt Nam, đồng thời cũng là đòn chí mạng đánh thẳng vào mõm của đám Rận chủ Việt, những kẻ đang ngày đêm ủ mưu để chống phá cách mạng Việt Nam cũng như chúng đã từng kêu gọi Mỹ tẩy chay Việt Nam khỏi TPP trước đây. Sự thành công của Việt Nam tại TPP một lần nữa đã khẳng định được sự đúng đắn trong đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam và nỗ lực của Chính phủ trong quyết tâm xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo đúng mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trần Ái Quốc
Theo nendanchu2012

9/10/15

NHỚ LỜI BÁC DẶN "CÒN ĐẤT NƯỚC THÌ NHẤT ĐỊNH KHÔNG ĐƯỢC CHIA"!

"Còn đất nước thì nhất định không được chia!", đó là lời dặn của Bác trong lần chúc thọ cuối cùng của Người.
Đó là đêm 3/9/1969. Trên đường vượt dốc cao điểm 405 để chuẩn bị cho trận đánh mới, chúng tôi nhận được tin đau đớn: Bác Hồ qua đời.

Mệnh lệnh của đơn vị gấp rút trở về hậu cứ chịu tang Bác. Chúng tôi như chết lặng giữa sườn núi. Tôi nhớ lại câu chuyện về người đồng đội Lê Nhật Tụng, người đã may mắn được gặp Bác Hồ lần cuối trong lễ mừng thọ Người trước lúc Người đi xa.
Dù Bác đã đi xa nhưng kỷ niệm, những ấn tượng về Người vẫn mãi được lớp lớp cháu con
lưu giữ
Lê Nhật Tụng là Trung đội phó của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 Nghệ An đỏ, thuộc Trung đoàn 27 Xô viết Nghệ Tĩnh (nay là Trung đoàn 27 - Triệu Hải). Trong cùng một trận đánh tại Bắc Đường số 9 (Quảng Trị), anh đã dùng khẩu B41, lần lượt bắn tiêu diệt 6 xe tăng địch, trở thành dũng sĩ diệt tăng nổi tiếng mặt trận B5.
Với chiến công đặc biệt xuất sắc đó, tháng 5/1969, Lê Nhật Tụng được vinh dự đại diện cho các chiến sĩ Quân giải phóng Đường 9 Quảng Trị, tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội dự Đại hội chiến sĩ thi đua.
Cũng trong dịp này, Lê Nhật Tụng đã có được niềm hạnh phúc tột cùng khi được tham gia Đoàn đại biểu dũng sĩ Quân giải phóng miền Nam thăm, chúc thọ Bác Hồ.
Để rồi, ngày trở lại đơn vị, trong hành trang của mình, ngoài chiếc Huy hiệu Bác Hồ do chính người tự tay gắn trên ngực áo của Lê Nhật Tụng, cùng tấm ảnh Lê Nhật Tụng đang cùng các dũng sĩ miền Nam quây quần bên Bác, còn có nguyên những câu chuyện cảm động về Bác Hồ.
Những câu chuyện đó được Lê Nhật Tụng kể lại cho chúng tôi đã trở thành động lực giúp những người lính Trung đoàn 27 vượt qua những cam go, thử thách, sẵn sàng hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Hồi đó, ai cũng khao khát được một lần gặp Người nên luôn cố gắng lập công.
Trong đêm mưa đầu tháng 9/1969, giữa mặt trận khét lẹt đạn bom, tin Bác mất khiến ai cũng trào nước mắt tiếc nuối. Bất chợt trong nghẹn lòng tiếc thương, câu chuyện kể về lần thăm, chúc thọ Bác Hồ của Lê Nhật Tụng lại trở về...
Chuyện rằng, hôm đó, mặc dù tuổi Bác đã cao, sức khỏe Bác không được tốt như trước, nhưng Bác vẫn dành cả một khoảng thời gian khá dài để tiếp và thăm hỏi nam, nữ dũng sĩ miền Nam. Trên bàn tiếp khách được bày sẵn những đĩa kẹo, bánh, trái cây.
Mặc dù Bác liên tục nhắc mọi người ăn kẹo, uống nước, nhưng trong một không khí ấm áp tình cha con, cả Đoàn như quên hẳn các đĩa kẹo, bánh, nước trà trên bàn.
Cứ vậy, sau những lời thăm hỏi, động viên và tự tay mình gắn Huy hiệu cho từng người, Bác chia tay với Đoàn. Nhưng ra đến cửa, Bác bỗng dừng bước, ngoảnh về phía dãy bàn còn nguyên các đĩa kẹo bánh và bình nước trà và nhắc: "Kẹo bánh của nhân dân cho đó, các cháu ăn không hết thì chia nhau mang về. Rồi bất ngờ Bác nhấn mạnh từng lời: Còn đất nước thì nhất định không được chia!"
Đó chính là lời dặn, và cũng là khát vọng thống nhất đất nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đau đáu suốt cả cuộc đời, thực sự là bài học về ý chí chiến đấu, hy sinh vì “độc lập tự do”, trở thành hành trang cho mỗi người lính chúng tôi đi tiếp suốt chiều dài chiến tranh, tiếp tục thực hiện ý chí, lời thề và là khát vọng thiêng liêng của mỗi con dân đất Việt: Vì độc lập tự do, vì sự nghiệp thống nhất đất nước.
Giây phút đó, ngước nhìn lên thác nước đổ phía đầu suối Cù Đinh, những câu thơ như theo bóng hình Bác bỗng đổ về thành lời:
Đung đưa võng mắc lưng sườn dốc
Đêm về gió núi lạnh tái tê
Vọng nghe suối đổ như triều dậy
Vẫn ấm lòng con, bóng Bác về.
Chúng tôi đã vĩnh viễn không bao giờ có dịp được gặp Bác như người đồng đội của chúng tôi. Nhưng Bác vẫn luôn hiện hữu bên chúng tôi trong từng chặng gian nan trận mạc với lời dặn như tạc vào lòng mỗi người lính giải phóng rằng: Đất nước không được chia!
Theo VTC
Tâm Trang (st)

8/10/15

Sự thật về “thỏa thuận bán nước” của ngụy Sài gòn trong Hải chiến 1974

Sự thật về “thỏa thuận bán nước” của ngụy Sài gòn trong Hải chiến 1974

Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, một cuộc chiến bán nước nhục nhã mà những kẻ cầm đầu chế độ bán nước tay sai Việt Nam Cộng hòa luôn muốn quên đi, bởi mỗi lần nhắc lại nó là một sự sỉ nhục ghê gớm đối với những kẻ ra lệnh chỉ đạo “cuộc dàn trận ở Hoàng Sa” năm đó. Một vở kịch đã được dàn dựng cho cuộc chiến này núp bóng đằng sau nó là một sự thật đáng ghê tởm của những kẻ luôn tự xưng là yêu nước, vì nhân dân, chính nghĩa quốc gia, một bí mật động trời “Thỏa thuận bán nước” .
HQ 10 và Ngụy Văn Thà tử trận do ai?
Lũ tướng lĩnh VNCH càng muốn quên bao nhiêu, thì những kẻ hậu sinh của nó, tàn dư của VNCH và lũ trẻ trâu chống cộng thời hiện đại nằm trong tổ chức phản động Việt Tân lại càng muốn bới móc nó ra bấy nhiêu. Thậm chí còn nực cười khi một số đối tượng Rận chủ Việt ở trong nước vì tiền đã trưng bày những khẩu hiệu, đề đạt những nguyện vọng muốn vinh danh, công nhận liệt sĩ cho những kẻ chết trận trong cuộc chiến dàn dựng năm 1974 tại Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Cuộc Hải chiến Hoàng Sa 1974 – Thỏa thuận bán nước của VNCH

VNCH với tư cách là những kẻ tay sai xuất hiện ở miền Nam Việt Nam trong mưu đồ thống trị lâu dài đất nước Việt Nam của Đế Quốc Mỹ. Sự xuất hiện này đã phá vỡ mọi quy tắc được thỏa thuận trong Hiệp định genever mà các bên ký kết năm 1954. Và cũng từ đây, VNCH tự cho mình cái quyền được định đoạt và quản lý tất cả những khu vực địa giới từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, trong đó có cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Về chuyện này không cần phải bàn cãi hay đổ lỗi cho bất cứ ai, bởi Việt Nam Cộng hòa không phải là một quốc gia được nhân dân Việt Nam và thế giới thừa nhận, không đủ tư cách pháp nhân để công nhận là “nhà nước” như những kẻ phản động vẫn rêu rao. Vấn đề là khi tự cho mình quyền quản lý, nhưng VNCH lại không thực hiện được những lời chúng vẫn rêu rao, và thực tế khi không còn gì để mất, chúng đã ký một thỏa thuận bán nước động trời, chấp nhận bán Hoàng Sa cho Trung Quốc để thỏa lòng bố Mỹ, hòng vực dậy miền Nam Việt Nam trước sự thất bại đau đớn bởi Quân Giải phóng của Bắc Việt. Mỹ không còn cách nào khác để “rửa mặt cho mình” ngoài việc cầu viện đến Trung Cộng trong nỗ lực nhờ Trung Cộng với tư cách “anh hai” trong khối XHCN can thiệp vào đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất tổ quốc của Đảng cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và dĩ nhiên, để đổi lấy sự can thiệp bằng đường lối của một nước lớn, Trung Quốc phải được cái gì đó. Mỹ đã chỉ đạo lũ bù nhìn VNCH dàn trận đánh tại Hoàng Sa năm 1974, nhưng trên thực tế là nhường Hoàng Sa cho Trung Quốc. Chuyện động trời này đã làm một số kẻ nhầm tưởng rằng Quân đội VNCH đã chiến đấu nhưng không đủ sức bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nhưng thực chất chuyện này là “một thỏa thuận bán nước” đáng khinh bỉ của những kẻ tay sai.
Xét về tiềm lực quân sự giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung quốc vào thời điểm năm 1974 Trung Quốc không hề có cửa thắng. Lực lượng Hải quân của ngụy được viện trợ xây dựng hùng hậu gồm 30 tàu chiến hiện đại lớn nhỏ đu các loại, khả năng tác chiến với sự hỗ trợ của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, vũ khí của Mỹ thì không phải bàn để khả năng chiến đâu làm gì. Tuy nhiên, trong cuộc chiến năm 1974 tại Hoàng Sa, do đã có thỏa thuận từ trước, nên chính quyền Ngụy Sài Gòn chỉ cử 4 tầu chiến/30 chiếc ra trận. Như đã nói, tất cả các tầu chiến của ngụy đều là những tầu khu trục mạnh, có khả năng bắn mục tiêu là tầu chiến lớn, tầm xa, chính xác. Các tầu này dùng pháo 127mm và có radar đối hải để đo đạc mục tiêu chính xác. Có tầu trong đó dùng pháo 75mm bắn nhanh và điều khiển trực tiếp bằng điện-máy tính-radar, với tốc độ bắn đến 20 phát / phút – ngắm bắn chính xác qua máy tính. Đối lại, phía Hải quân Trung quốc có 4 tầu , trong đó chủ yếu là các tầu rà mìn cũ hỏng “lết vào trận đánh”. Tốc độ của các tầu này vốn chậm, lại càng chậm hơn vì cũ hỏng không có máy móc thay thế. Trung Quốc bổ sung thêm 2 tầu rà mìn – tuần tiễu mới, nhưng vũ khí đối kháng tầu-tầu càng yếu với pháo 57 phòng không đem ra bắn tầu. Về máy bay, Phía chính quyền ngụy sài gòn được Mỹ trang bị những loại máy bay tiêm kích F-5 và A-37 thuộc vào dạng hiện đại bậc nhất lúc đó với khả năng không chiến rất hiệu quả. Còn Trung Quốc chỉ có các máy bay nhái Mig-17/19 là bay được đến đảo nhưng trang bị vũ khí nhẹ. Về không chiến, các máy bay đó có radar rất nhỏ vì chúng được chiến kế để bắn bằng súng. Đối lại, F-5 là các máy bay có khả năng không chiến ở M2 và bắn bằng radar-đạn tự hành (tên lửa-radar và tên lửa-hồng ngoại) với tiềm lực không chiến như thế mà thất bại thì rõ ràng đúng là chuyện không tưởng ở đội quân tay sai của Đế quốc Mỹ, một cường quốc về quân sự.
Phòng không của các tầu chiến TQ gần như bằng không với các máy bay ngụy, vì dùng các pháo 37-57 ww2, bắn bằng kẹp đạn , chưa có bằng liên tục. Các pháo đó chỉ dùng hiệu quả với các máy bay cánh quạt ww2, và nếu như dùng trên bờ thì chúng có ưu thế là rẻ – số lượng lớn – bắn thành cả màn đạn bảo vệ mục tiêu khi máy bay địch ném bom bổ nhào, nhưng đây là trên biển với 4 chiếc tầu và vài khẩu pháo. Với chênh lệch lực lượng đó, quân Tầu không thể có cửa trước trận chiến đối kháng tầu-tầu. Thế nhưng, quân tầu đã thắng. Đó là vì quân ngụy đã bắn chết quân ngụy. Nói cho chính xác, ngụy chia làm hai cánh , bắc và nam. Cánh bắc gồm các tầu HQ-10 và HQ-16. Cánh nam do dích thân tư lệnh trận đánh Hà Văn Ngạc chỉ huy, gồm các tầu HQ-4 và HQ-5. Cánh nam có các tầu bắn bằng máy tính-radar-pháo bắn nhanh, chỉ riêng một tầu của cánh nam đã đảm bảo lực lượng bắn chìm toàn bộ các tầu Trung Quốc. Thế nhưng, thay vì bắn địch, HQ-5 và HQ-6 do đích thân Hà Văn Ngạc chỉ huy đã quay súng điện tử bắn đắm đồng bọn. Các tầu cánh Bắc gồm các tầu HQ-10 và HQ-16 do Lên văn Thự chỉ huy tiến vào “lòng chảo” ở giữa quần đảo, khai chiến với tầu chiến TQ. Thế thì, từ hướng khác của lòng chảo, HQ-4 và HQ-5 đã sử dụng những vũ khí mạnh nhất bắn giết họ. HQ-10 đắm mất xác.
ThàHQ 10 bị đạn mỹ và tầu chiến của đồng bọn bắn cháy, thế nhưng những kẻ phản động vẫn làm thơ ca ngợi Ngụy Văn Thà
Nhưng trớ trêu thay, viên đạn bắn trúng HQ-16 dã không nổ, về sài gòn tố cáo tội ác quân ngụy. Đó là viên đạn pháo 127, do tầu HQ-5 bắn. Hà Văn Ngạc là tư lệnh của trận dánh, và nó ngồi trên tầu HQ-5 để chỉ huy trận đánh. HQ-10 đắm, còn lại HQ16. Tầu HQ-16 may mắn không chết do viên trái phá 127mm Madein USA thối không nổ. Nhưng HQ-16 hỏng một máy. CÒn một mình, và bị thương. Thuyền trưởng Lê Văn Thự đã nhanh chóng cảm nhận được tình thế, ông khôn ngoan rút êm về hướng Tây Bắc, đi xa cả “đồng đội” và quân Tầu, nên thoát chết. Khi về, quân ngụy gỡ đạn ra đã ngỡ ngàng cới chữ Madein USA, và chẳng cần nhiều thời gian, số seri đã khẳng định dó là đạn bắn từ HQ-5 Nếu như viên đạn ấy nổ, thì HQ-16 đắm, Lê Văn Thự có thể đã chết, tội ác này bị giấu kín. Sau trận đánh, HQ-4 và HQ-5 đã không bơi về hướng Việt nam rất gấn, mà chạy sang hướng …. Philippines. Sau đó, có mệnh lệnh ở nhà và sự đảm bảo của quan thầy rằng chúng không bị ra tòa, không bị giết báo thù… thì hai tầu này mới quay lại hướng Sài Gòn, không về đơn vị.
Những sự thật động trời này đến ngày nay mới được biết đến. Thế nhưng vẫn có những kẻ to mồm đi rêu rao những luận điệu rằng Hải quân VNCH đã chiến đấu anh dũng đến hơi thở cuối cùng và hy sinh oanh liệt. Thậm chí có những kẻ dốt nát còn trưng lên khẩu hiệu đòi phong “liệt sĩ” cho những kẻ “bán nước cầu vinh”. Thật khốn nạn không một từ nào có thể diễn tả hết được.
Trần Ái Quốc
Theo Nendanchu2012

6/10/15

BỘ QUỐC PHÒNG CÓ THÊM 2 ĐẠI TƯỚNG MỚI!

Chủ tịch nước trao quyết định thăng quân hàm Đại tướng cho đồng chí Ngô Xuân Lịch, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN và đồng chí Đỗ Bá Tỵ, Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN.

Ngày 5/10, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã trao quyết định thăm quân hàm Đại tướng cho đồng chí Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và đồng chí Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. 

Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Trần Đại Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước các bộ, ngành Trung ương đã dự lễ công bố quyết định thăng quân hàm Đại tướng tổ chức trọng thể tại Phủ Chủ tịch. 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trao quyết định cho đồng chí Ngô Xuân Lịch, và đồng chí Đỗ Bá Tỵ. Ảnh: Nguyễn Khang – TTXVN

Phát biểu tại lễ công bố quyết định thăng quân hàm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh, việc Đảng, Nhà nước thăng quân hàm Đại tướng cho hai đồng chí Ngô Xuân Lịch và Đỗ Bá Tỵ là thể hiện sự quan tâm sâu sắc, sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với quân đội; ghi nhận những đóng góp to lớn, đặc biệt của cá nhân mỗi đồng chí trong sự nghiệp xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. 

Chủ tịch nước đánh giá cao các đồng chí được thăm quân hàm Đại tướng đã lập nhiều chiến công, thành tích trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Trên cương vị công tác, trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào, các đồng chí cũng luôn thể hiện những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm và năng lực để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 

Chủ tịch nước nêu rõ, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới đang đặt ra cho toàn dân và toàn quân ta những nhiệm vụ hết sức nặng nề. 

Tình hình chính trị - xã hội của đất nước ổn định, kinh tế tiếp tục có bước phát triển nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước vẫn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Vì vậy, đòi hỏi quân đội nhân dân phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, tuyệt đối trung thành với Đảng và Nhà nước; Tổ quốc và nhân dân; Đảng bộ quân đội phải thực sự đoàn kết, thống nhất, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng đi thẳng vào hiện đại, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. 

Chủ tịch nước khẳng định, được thăng quân hàm Đại tướng là niềm vinh dự lớn nhưng trách nhiệm càng cao. Là những cán bộ sỹ quan cao cấp nhất, giữ các trọng trách của Đảng, Nhà nước và Quân đội, trong thời gian tới, đồng chí Ngô Xuân Lịch và đồng chí Đỗ Bá Tỵ cần tiếp tục phát huy hơn nữa năng lực, trí tuệ và bản lĩnh của mình, tham mưu cho Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; giữ vững phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"; tuyệt đối trung thành với Đảng và Nhà nước, với Tổ quốc và nhân dân. Tham mưu cho Đảng, Nhà nước theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc các cấp, ngành triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới". Tiếp tục chỉ huy, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, các đơn vị trong quân đội nhân dân tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" và Chỉ thị 03/CT-TW của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". 

Chủ tịch nước đề nghị các đồng chí Đại tướng tập trung chỉ đạo nghiên cứu hệ thống tổ chức bộ máy lực lượng quân đội nhân dân; thực hiện thắng lợi chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong quân đội nhân dân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII). Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt triển khai thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; cùng Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ quốc phòng lãnh đạo chỉ huy quân đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 

Bày tỏ cảm ơn sự quan tâm, tin tưởng, giúp đỡ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Đại tướng Ngô Xuân Lịch nhấn mạnh, trải qua các cương vị công tác, cá nhân các đồng chí đã luôn nỗ lực phấn đấu, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước, nhân dân, đồng chí, đồng đội. Đại tướng khẳng định sẽ tiếp tục hết lòng hết sức, trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; thường xuyên tu dưỡng rèn luyện, thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: Người làm tướng phải "Trí- Dũng- Nhân-Tín-Liêm- Trung" để luôn xứng đáng là người chỉ huy tài năng mẫu mực; phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, là chỗ dựa tin cậy vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Hoàng Giang (TTXVN)

5/10/15

ĐẾ QUỐC MỸ CAN THIỆP VÀO MIỀN NAM VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam (1948-1975)
Quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam (1948-1975) là quá trình diễn biến của hàng loạt các chính sách, biện pháp chính trị, ngoại giao và quân sự của Mỹ nhằm thực hiện những mục tiêu của họ tại khu vực Đông Dương (trong đó Việt Nam là trọng tâm). Quá trình này được coi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự kéo dài của Chiến tranh Đông Dương và cũng là sự châm ngòi cho Chiến tranh Việt Nam diễn ra sau đó. Vai trò của Mỹ đã dần dần đi từ viện trợ, cố vấn cho tới việc trực tiếp tham chiến.
Theo các sự kiện chính thức, sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam được coi là bắt đầu vào năm 1964, khi các nhóm quân viễn chinh Mỹ đầu tiên đổ bộ lên Đà Nẵng. Tuy nhiên thực tế những hạt mầm của sự can thiệp này đã được gieo từ rất lâu trước đó, ngay từ năm 1948 khi Chiến tranh Đông Dương đang diễn ra, và kéo dài tới tận năm 1975, khi chiến tranh Việt Nam kết thúc với sự thất bại của Hoa Kỳ và sự sụp đổ của chính phủ bản xứ thân Mỹ là Việt Nam Cộng hòa.
Sự hình thành chiến lược toàn cầu của Mỹ - Chiến lược quân sự "Ngăn chặn" (1948-1952)
Giai đoạn 1945-1947
Bức điện Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ nhưng không được trả lời
Khi Chiến tranh thế giới thứ II bắt đầu, ngày 14/8/1941 Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston S. Churchill cùng nhau ra Tuyên bố chung Hiến chương Đại Tây Dương. Điều 3 của Hiến chương này nói rằng Anh và Mỹ tôn trọng quyền của tất cả mọi dân tộc được chọn hình thức chính quyền lãnh đạo họ, Anh và Mỹ cũng mong muốn nhìn thấy chủ quyền và các hình thức nhà nước tự trị của các dân tộc trước kia bị người khác dùng vũ lực tước mất được tái lập lại.[1][2]
Tuy nhiên, sau khi Thế chiến kết thúc, quân Anh được cử tới Việt Nam giải giáp quân Nhật đã đồng thời trợ giúp đồng minh là Pháp tái thiết lập chế độ thực dân tại đây. Ngày 23/9/1945, quân Pháp được quân Anh giúp sức đã nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.[3]
Về phía Mỹ, sau chiến tranh thế giới thứ II, một mặt nước này ủng hộ khái niệm quyền dân tộc tự quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố đế quốc đối với những thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, cũng như việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa được bù lại bằng mối quan tâm của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại Châu Âu. Một số đồng minh NATO khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu.[4]
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho Tổng thống Mỹ Harry Truman kêu gọi sự ủng hộ của Mỹ với nền độc lập non trẻ của Việt Nam, nhưng đã không được hồi đáp. Nhiều nhà sử học cho rằng Hoa Kỳ đã bỏ lỡ cơ hội để quan hệ hữu nghị với Việt Nam, và đây là khúc ngoặt đầu tiên dẫn tới cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành tại Việt Nam.[5]
Những năm 1946 và 1947, Mỹ không ngăn cản Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng cũng không trực tiếp viện trợ cho các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Mãi đến năm 1947, khi Mỹ viện trợ cho nước Pháp 3 tỷ đôla theo kế hoạch Marshall, nhờ đó Pháp mới đỡ khó khăn hơn trong việc tiếp tục chiến tranh ở Việt Nam.
Lúc này, tuy Mỹ có chú ý đến "tính chất cộng sản" của Chính phủ kháng chiến Việt Minh, nhưng họ lại đang bị cuốn hút vào những vấn đề lớn của châu Âu. Việc chiếm đóng và xây dựng lại Nhật, sự tiến triển của các lực lượng cách mạng trong cuộc nội chiến Trung Quốc, sự phát triển mạnh của phong trào đòi độc lập và giải phóng dân tộc ở các khu vực thuộc địa rộng lớn, kể cả ở Đông Nam Á, v.v... làm cho Mỹ lúc này muốn Pháp giải quyết nhanh cuộc chiến tranh Đông Dương, kể cả bằng thương lượng. Tóm lại, cho đến những năm 1946-1947, Mỹ chưa quan tâm nhiều đến vấn đề Việt Nam và Đông Dương.
Chiến lược quân sự toàn cầu "Ngăn chặn" (1948- 1952)
Để tồn tại như một siêu cường hàng đầu thế giới không phải chỉ có sức mạnh quân sự, kinh tế và chính trị, mà còn cần phải có một chiến lược toàn cầu phù hợp, một chính sách xâm nhập và bành trướng khôn khéo. Đó là điều rất khó khăn đối với Mỹ hồi đó, tuy rằng Mỹ là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tri thức, nhiều nhà khoa học lỗi lạc, nhưng những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ phải tập trung chất xám, động viên lực lượng trí tuệ để phát triển kinh tế và khoa học - kỹ thuật quân sự, tạo cơ sở để những năm sau cho ra đời được chiến lược toàn cầu.
Tổng thống Mỹ Harry S. Truman, người mở đầu sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam qua việc viện trợ chiến phí cho Pháp
Chiến lược toàn cầu của Mỹ gồm có chiến lược chung (grand strategy) có khi còn gọi là chiến lược tổng quát, và chiến lược quân sự toàn cầu. Chiến lược chung bao gồm những quan điểm, tư tưởng và phương hướng chỉ đạo chiến lược cho tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế ngoại giao v.v... và thường được mang tên là học thuyết hoặc chủ nghĩa. Kèm theo là một chiến lược quân sự toàn cầu.
Ra đời trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, Liên Xô vừa chiến thắng phát xít, uy tín quốc tế đang lên cao, tuy bị tàn phá nhiều, nhưng vẫn đang nắm ưu thế quân sự về vũ khí thông thường. Các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt ra đời được Liên Xô ủng hộ và bắt đầu hình thành một hệ thống thế giới. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đang trên đà phát triển. Phong trào giải phóng dân tộc lên cao. Trong lúc đó, các trung tâm tư bản chủ yếu ở châu Âu và Nhật chưa được củng cố, phục hồi, tập hợp lại. Bối cảnh lịch sử đó đặt chiến lược toàn cầu Mỹ xuất phát từ một thế phòng ngự là ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ.
Sau khi trúng cử vào Nhà Trắng lần thứ hai, Tổng thống Mỹ Truman đề ra học thuyết mang tên mình. Học thuyết Truman coi Liên Xô là đối tượng chủ yếu và lập luận rằng "một số phong trào cách mạng giải phóng dân tộc cũng là tay sai của cộng sản do Moscow điều khiển, sử dụng chiêu bài dân tộc để bành trướng chủ nghĩa cộng sản". Do vậy, chiến lược của Mỹ là phải bao vây và ngăn chặn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải chống những phong trào giải phóng dân tộc do những người cộng sản lãnh đạo và ủng hộ những phong trào dân tộc không theo chủ nghĩa cộng sản như các phong trào ở Nam Á, Trung Đông, Đông Nam Á, Đông Bắc Á[6]... Để củng cố lực lượng đồng minh của Mỹ, học thuyết Truman chấp nhận kế hoạch Marshall ở châu Âu. Kế hoạch Marshall do Marshall, quốc vụ khanh Mỹ nêu ra ngày 5-6-1947, nhằm khôi phục lại châu Âu bằng viện trợ Mỹ. Các nước Anh, Pháp, Bỉ, Áo, Hà Lan, Luxembourg, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Ailen, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Bồ Đào Nha, Tây Đức… đã tiếp nhận với điều kiện dành cho Mỹ những đặc quyền kinh tế theo yêu cầu của Mỹ, ủng hộ chiến lược ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản của Mỹ.
Viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương (1948-1952)
Mỹ đặt trọng tâm tại Đông Nam Á
Tại Mỹ đầu thập niên 1950, các thế lực chống cộng cực đoan nắm quyền. Lực lượng mật vụ của McCarthy và Hoover thường xuyên thực hiện các chiến dịch chống cộng gồm theo dõi, phân biệt đối xử, sa thải, khởi tố và bắt giam nhiều người bị xem là cộng sản hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản.[7][8][9] Một bộ phận trong số những nạn nhân bị mất việc, bị bắt giam hoặc bị điều tra quả thật có quan hệ trong hiện tại hoặc trong quá khứ với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Nhưng đại bộ phận còn lại có rất ít khả năng gây nguy hại cho nhà nước và sự liên quan của họ với người cộng sản là rất mờ nhạt.[10] Chính phủ Mỹ khiến công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.[11]
Sự cạnh tranh chiến tranh lạnh với Liên Xô là mối quan tâm lớn nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ trong những năm 1940 và 1950, chính phủ Truman và Eisenhower ngày càng trở nên lo ngại rằng khi các cường quốc châu Âu bị mất các thuộc địa của họ, các đảng cộng sản được Liên Xô ủng hộ sẽ đạt được quyền lực trong quốc gia mới. Điều này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực quốc tế theo hướng có lợi cho Liên Xô và loại bỏ quyền truy cập vào nguồn lực tài nguyên từ đồng minh của Mỹ. Các sự kiện như cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia (1945-1950), cuộc chiến tranh của Việt Nam chống Pháp (1945-1954), và chủ nghĩa xã hội dân tộc công khai của Ai Cập (1952) và Iran (1951) đã khiến Hoa Kỳ lo lắng rằng các nước mới giành độc lập sẽ ủng hộ Liên Xô, ngay cả khi chính phủ mới không trực tiếp liên hệ với Liên Xô. Do vậy, Hoa Kỳ đã sử dụng các gói cứu trợ, hỗ trợ kỹ thuật và đôi khi bằng tấn công quân sự để hỗ trợ các lực lượng thân phương Tây tại các quốc gia mới.[6]
Giới chiến lược quân sự Mỹ phát hiện thấy lúc này hướng yếu nhất trong chiến lược của Mỹ ở châu Á là Đông Nam Á, một khu vực rộng lớn tiếp giáp với Trung Quốc ở phía nam. Bởi vì "Đông Nam Á có tầm quan trọng về chiến lược, nó kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa hai biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương", "Đông Nam Á rất quan trọng đối với Mỹ"...
Quan điểm ngăn chặn đã tạo ra một cơ cấu chặt chẽ cho đường lối của Mỹ ở Đông Nam Á. Trong văn kiện NSC51, nhan đề Chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á do Bộ Ngoại giao Mỹ trình lên Hội đồng an ninh quốc gia ngày 1-7-1949, có đánh giá "ở Đông Dương, chính sách của Pháp là đánh chiếm lại, v.v... nhưng Pháp không thể dùng biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi rất nhiều. Cộng sản chiếm vị trí khống chế trong phong trào dân tộc...". Sau đó, Tổng thống Truman đã phê chuẩn (ngày 30-12-1949) một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, trong đó nhấn mạnh "cần thiết phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông Dương". Đông Nam Á trở thành chiến trường quan trọng (lúc đó vẫn là sau Đông Bắc Á) trong chiến lược của Mỹ ở châu Á. Chiến lược ngăn chặn ở Đông Nam Á coi như chính thức bắt đầu từ đó và Đông Dương trở thành trọng điểm của chiến lược Đông Nam Á của Mỹ.
Máy bay C-119 của Mỹ đang thả lính dù Pháp tại trận Điện Biên Phủ năm 1954.
Những năm 1948, 1949 triển khai học thuyết Truman và chiến lược quân sự toàn cầu ngăn chặn, Mỹ đặt trọng tâm chiến lược là Tây Âu. Ở châu Âu, lúc này nước Pháp có vị trí rất quan trọng, thậm chí là then chốt trong việc hình thành liên minh đó. Do vậy, Mỹ đã cố gắng tranh thủ Pháp để khai thác vai trò của Pháp. Năm 1947, Mỹ viện trợ cho Pháp 3 tỉ đôla theo kế hoạch Marshall. Năm 1948, Tổng thống Mỹ đã có sự phê chuẩn đặc biệt để trang bị cho 3 sư đoàn Pháp đóng ở Đức.
Năm 1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ (27-9-1948) tổng kết tình hình Việt Nam và chính sách của Mỹ đối với Việt Nam, có nêu rõ mục tiêu lâu dài của Mỹ là: thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ.
Thực tế từ năm 1947, Mỹ đã viện trợ cho Pháp theo kế hoạch Marshall và Pháp đã dùng một phần viện trợ đó vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Báo chí Mỹ cho biết: năm 1947 Chính phủ Truman đã cho Pháp vay 160 triệu đôla để mua xe cộ và một số thiết bị liên quan cho chiến trường Đông Dương. Trong văn kiện NSC51 của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (ngày 1-7-1949) có xác nhận, trong năm 1948 khoảng 100.000 quân Pháp với trang bị của Mỹ... đang ở Đông Dương.
Mỹ ủng hộ thành lập Quốc gia Việt Nam
Mỹ tuyên bố ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản, Mỹ ủng hộ việc thành lập các nhà nước phi cộng sản (tức là theo chủ nghĩa chống Cộng) ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không hài lòng với điều mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới chiêu bài dân tộc".[12] Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam, nhưng mặt khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng minh trước những mối lo lớn hơn tại Châu Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2 mặt không tương thích: một mặt hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh - tốt nhất là dưới sự chỉ đạo của Mỹ, mặt khác Mỹ dự kiến sau khi chiến thắng, người Pháp sẽ - "một cách cao cả" - rút khỏi Đông Dương[13]
Mỹ đã khuyên Pháp nên tìm một giải pháp chính trị. Tháng 1-1949, Bộ Ngoại Giao Mỹ thúc ép Pháp thoả thuận với Bảo Đại để lập Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Tiếp đến tháng 2-1949, Ngoại trưởng Akison lại hối thúc và đến ngày 8-3-1949, Pháp đã ký Hiệp nghị Elysee với Bảo Đại. Ngày 10-5-1949, Bộ Ngoại giao Mỹ điện cho lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, khẳng định Pháp, các cường quốc phương Tây khác và các nước không cộng sản ở châu Á, hết sức cố gắng để đảm bảo thắng lợi tốt nhất cho giải pháp Bảo Đại.
Người Pháp tỏ ra ít có nhiệt tình với chính phủ Quốc gia Việt Nam mới ra đời, còn người Mỹ chế giễu Pháp là "thực dân tuyệt vọng". Đáp lại, phía Pháp nhận định là Mỹ quá ngây thơ, và một người Pháp đã nói thẳng là "những người Mỹ ưa lo chuyện người khác, ngây thơ vô phương cứu chữa, tin tưởng rằng khi quân đội Pháp rút lui, mọi người sẽ thấy nền độc lập của người Việt xuất hiện." Rõ ràng đây là một câu nói chế giễu nhưng nó lại chính xác vì những người Mỹ khá ngây thơ và ấu trĩ khi họ mới đến Việt Nam.[14]
Mỹ viện trợ quân sự cho Pháp
Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ chủ nghĩa thực dân, nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự.[15][16]
Từ cuối năm 1949, khi bối cảnh thế giới đã bắt đầu trở nên căng thẳng, Mỹ chính thức cam kết dính líu vào cuộc chiến tranh của Pháp ở Việt Nam chống lại lực lượng Việt Minh bằng một loạt bước đi liên tiếp: tháng 10-1949, Mỹ cử phái đoàn đầu tiên gồm các đại biểu Quốc hội và cán bộ ngoại giao đến Đông Nam Á, rồi đến Sài Gòn nghiên cứu tình hình. Ngày 28-11-1949, Washington chính thức mời đại diện của Chính phủ Quốc gia Việt Nam sang thăm Mỹ. Bảo Đại cử Bửu Lộc, Chánh văn phòng của Chính phủ Bảo Đại, sang Mỹ.
Trong văn kiện của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSC.51) do Tổng thống Truman phê chuẩn ngày 30-12-1949, nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn sự Việt Minh ở Đông Dương bằng sự trợ giúp về chính trị, viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp.
Sau khi Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đưa ra ý kiến viện trợ quân sự cho chính quyền Quốc gia Việt Nam thông qua Pháp (ngày 27-2-1950) được Hội đồng tham mưu trưởng liên quân ủng hộ, Mỹ đã để lộ ý đồ muốn ủng hộ Quốc gia Việt Nam bằng cách viện trợ quân sự thẳng cho chính quyền này không thông qua Pháp. Mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ trong chiến tranh Đông Dương lúc này đã bộc lộ công khai và có phần gay gắt.
Ngày 14-9-1951, tướng De Lattre sang gặp Tổng thống Harry Truman, Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ và tướng Collins, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ tiếp. Lô viện trợ đầu tiên của Mỹ gồm rất nhiều chiến cụ và khí giới: 9.000 súng tiểu liên, 500 đại liên, 5.000 xe chuyên chở đủ loại, 600 máy truyền tin và các xe chiến đấu, máy bay, tàu hải quân, tàu sửa chữa...
Từ tháng 7-1950 đến 1-1-1952, Mỹ đã cung cấp cho Pháp gần 300 triệu đôla vũ khí và trang bị quân sự. Tại hội nghị tay ba Mỹ, Pháp, Anh họp ở Paris bàn về các vấn đề Đông Nam Á ngày 28-5-1952, Ngoại trưởng Mỹ Akison nói từ tháng 6-1951 đến tháng 6-1952, Mỹ đã gánh chịu một phần ba (1/3) chi phí cho cuộc chiến tranh của Pháp và Quốc gia Việt Nam ở Đông Dương. Và từ hội nghị này, Mỹ đồng ý tăng thêm 150 triệu đôla trong tài khoá 1952-1953 viện trợ quân sự cho Pháp và Quốc gia Việt Nam. Le Tourneau, đại diện Chính phủ Pháp xác nhận sáu tháng tới viện trợ quân sự Mỹ sẽ chiếm tỷ lệ 40% chi phí chiến tranh ở Đông Dương.
Mặc dầu vậy, Pháp vẫn không bớt lo ngại trước ý định của Mỹ ủng hộ trực tiếp Quốc gia Việt Nam để chính quyền này ly khai khỏi Liên hiệp Pháp thành lập một quốc gia độc lập không thuộc Liên hiệp Pháp. Ngày 16-6-1952, Le Tourneau, Bộ trưởng phụ trách Đông Dương trong Chính phủ Pháp tuyên bố ở Mỹ rằng, Pháp cần Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, nhưng không muốn có quân đội nước ngoài ở Đông Dương (ý nói không muốn Mỹ đưa quân vào).
Thời kỳ Eisenhower-Nixon (1952-1954)
Kế hoạch Nava
Năm 1953, Eisenhower - Nixon chính thức cầm quyền sau khi đánh giá lại tình hình, đã đề ra "chủ nghĩa Eisenhower", thay cho "học thuyết Truman" và lấy chiến lược "trả đũa ào ạt" làm chiến lược quân sự toàn cầu mới, thay cho chiến lược "ngăn chặn".
Trong tình hình Pháp đang gặp rất nhiều khó khăn và ở thế bất lợi trong cuộc chiến tranh, một mặt, Mỹ dốc thêm nhiều viện trợ cho Pháp; mặt khác, tìm mọi cách để trực tiếp nắm lấy việc điều hành chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 7-1953. Mỹ phê chuẩn Kế hoạch Nava, của bộ chỉ huy Pháp, gánh chịu mọi khoản chi phí cho kế hoạch đó, gồm gần 400 triệu đôla. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở Đông Dương gồm 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy.
Bộ đôi Eisenhower-Nixon năm 1952. Phó tổng thống Nixon từng trực tiếp sang Đông Dương và thị sát việc Pháp xây dựng cụm cứ điểm Điện Biên Phủ.
Nếu như năm 1950, Mỹ chỉ viện trợ quân sự 10 triệu đôla cho Pháp trong cuộc chiến tranh, thì đến lâu năm 1954, số lượng này đã tăng lên đến 1,1 tỉ đôla, chiếm 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Từ 1950 đến 1954, tổng số viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương đã vượt quá 3,5 tỉ đôla. Tướng Nava sau này viết trong hồi ký rằng: "Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."
Năm 1953, Mỹ vừa tăng viện trợ quân sự cho Pháp, vừa không ép Pháp nhiều, sợ Pháp bỏ cuộc sớm trong khi Mỹ chưa chuẩn bị đủ các điều kiện thuận lợi để thay Pháp tài trợ cho cuộc chiến tại Việt Nam, mặt khác, Mỹ cũng còn tính những kế hoạch riêng. Ngày 21-7-1953, Tổng thống Eisenhower chính thức mời Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Nguyễn Văn Tâm sang thăm Hoa Kỳ và được Mỹ cam kết ủng hộ giúp đỡ. Trong khi đó, Mỹ cũng bắt đầu cổ động cho chính trị gia khác là Ngô Đình Diệm.
Để thuyết phục nội bộ chính giới Mỹ và dư luận Mỹ tán thành ủng hộ chủ trương chiến lược hỗ trợ các nhà nước tại Đông Dương nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á, chính quyền Eisenhower nhiều lần nhắc đến và nhấn mạnh hậu quả, tác động phản ứng dây chuyền của thuyết Domino. Chính quyền Washington cho rằng, nếu để mất Đông Dương sẽ gây ra những hậu quả xấu về tâm lý, chính trị, kinh tế, quân sự trọng yếu và sẽ mất nốt phần còn lại của Đông Nam Á. Đông Dương đang trở thành con bài Domino đầu tiên.
Theo Félix Green, mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á. Vì đây là "một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào"[17] Nhiều nhà sử học khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ sự tồn tại của một chính phủ thân Mỹ tại miền Nam Việt Nam, không chỉ nhằm làm "tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản", mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu dài của "Quyền lực tư bản" Mỹ lên thị trường vùng Đông Nam Á[18][19] (xem thêm Chủ nghĩa thực dân mới).
Kế hoạch Chim kền kền
Đầu năm 1954, tình hình quân sự trên chiến trường Đông Dương trở nên tồi tệ đối với Pháp. Hội nghị Genève sắp sửa họp, Mỹ lập cầu hàng không Philippine - Đông Dương, tiếp tế cho quân đội Pháp mỗi ngày từ 200 đến 300 tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, quân dụng. Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương đưa hai tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 vào vịnh Bắc Bộ. Kế hoạch Chim kền kền dự định đưa 8 sư đoàn quân chiến đấu trên bộ của Mỹ vào trực tiếp tham chiến. Trong số đó sẽ điều ngay một lúc 35 tiểu đoàn vào đồng bằng Bắc Bộ. Tập trung 300 máy bay cường kích để xoá trắng "khu vực Điện Biên Phủ". Và có thể dùng vũ khí nguyên tử đánh vào miền nam Trung Quốc, nếu Trung Quốc đưa quân vào tham chiến.[20]
Ở Washington, "bản kế hoạch diều hâu" đã chuẩn bị xong, Eisenhower và Nixon (Tổng thống, Phó tổng thống) cùng Ridway (Tham mưu trưởng liên quân Mỹ) đưa trình Hội đồng an ninh quốc gia và Quốc hội, nhưng bị phản đối, không được phê chuẩn. Trước đó một tuần, ngoại trưởng Mỹ Dulles tuyên bố: "Từ nay, Đông Dương nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược Mỹ."
Giai đoạn sau chiến tranh Đông Dương (1954-1963)
Mỹ thay thế Pháp viện trợ cho Quốc gia Việt Nam
Sau thất bại của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), ngày 8-5-1954, Hội nghị Genève về Đông Dương mới bắt đầu họp. Kết thúc Hội nghị Genève, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận và cam kết tôn trọng quyết định của chín nước thành viên Hội nghị Genève. Nhưng liền sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: "Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy". Cũng như Tổng thống của mình, thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống) John F. Kennedy tuyên bố: "Nó (Việt Nam Cộng Hòa) là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó"[21]
Báo cáo của CIA cho Tổng thống Mỹ Eisenhower thấy rằng khoảng 80% dân số Việt Nam sẽ bầu cho Hồ Chí Minh nếu cuộc tổng tuyển cử được thi hành, và không ai có thể thắng Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng Tuyển cử tự do, vì ông là một George Washington của Việt Nam.[22] Do vậy Hoa Kỳ đã hậu thuẫn Quốc gia Việt Nam để cuộc tuyển cử không thể diễn ra.[23] Năm 1956, Allen Dulles đệ trình lên Tổng thống Mỹ Eisenhower báo cáo tiên đoán nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Ngô Đình Diệm chỉ có một lối thoát là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến khích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không[24]
Tướng Edward Lansdale, chỉ huy cố vấn Mỹ ở Việt Nam
Từ đây, Mỹ chủ trương và dùng nhiều biện pháp thực hiện các ý đồ chính trị của Mỹ. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do tướng Edward Lansdale, người của CIA và đã làm cố vấn cho Pháp tại Việt Nam từ 1953, giúp huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam Cộng hòa); xây dựng các cơ sở hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippin; bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch "bình định Việt Minh và các vùng chống đối"[25] Đúng 20 ngày sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, đô đốc Mỹ Sabin đến Hà Nội, họp với phái đoàn quân sự Mỹ do Lansdale đứng đầu. Một bộ phận quan trọng trong kế hoạch đó là tuyên truyền kêu gọi hơn dân miền Bắc di cư vào Nam. Điều này góp phần vào việc hơn một triệu người (đặc biệt là dân Thiên Chúa giáo) di cư vào Nam. Phần đóng góp của Mỹ cho kế hoạch này là 1.455.000 đôla, 41 lượt tàu biển và 19 máy bay vận tải.
Hiệp định Genève về Đông Dương vừa được ký kết (20-7-1954), thì Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua "kế hoạch Memphis". Tinh thần và nội dung cơ bản của kế hoạch này là "biến vĩ tuyến 17 thành một phòng tuyến ngăn chặn (chủ nghĩa cộng sản) không thể xoá bỏ được". Để lập được phòng tuyến đó cần có một tổ chức liên minh quân sự bao gồm Mỹ và các nước khác trong đó Mỹ đóng vai trò chủ chốt.
Sau một thời gian ngắn vận động chuẩn bị, Mỹ triệu tập một hội nghị ở Đông Nam Á, bao gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Pakistan, Philippine, Thái Lan họp ở Manila (Thủ đô Philippine). Ngày 8-9-1954 các nước này đã ký "Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á". Như vậy, chỉ hơn một tháng sau khi Hiệp định Genève về Đông Dương được ký kết, Mỹ đã thành lập Khối quân sự Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO). Trong Hiệp ước này (còn gọi là Hiệp ước Manila) có điều 2, điều 4, điều 8 và một khoản phụ đặt xứ Đông Dương gồm ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia vào "khu vực bảo hộ" của khối Đông Nam Á.
Ngày 17-11-1954, Colin, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ được cử sang Sài Gòn làm đại sứ, đề ra kế hoạch sáu điểm:
Bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho Chính phủ Sài Gòn không qua tay Pháp.
Xây dựng lại Quân đội quốc gia Việt Nam với 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện, trang bị.
Bầu cử Quốc hội Việt Nam để hợp pháp hoá chính quyền Sài Gòn.
Định cư cho số công giáo miền Bắc di cư và vạch kế hoạch cải cách điền địa.
Thay đổi chế độ thuế khoá, dành ưu tiên cho hàng hoá và công ty Mỹ vào miền Nam Việt Nam.
Đào tạo cán bộ hành chính cho Diệm.
Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ tham gia huấn luyện Quân đội Quốc gia Việt Nam. Mỹ thực sự từng bước đặt ảnh hưởng của mình thay thế Pháp ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1-1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ngoại trưởng Mỹ, Dalles đã tuyên bố: "Đầu tư ở miền Nam Việt Nam là chính đáng. Không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục ủng hộ Diệm. Chúng ta không cần biết một người lãnh đạo xứng đáng nào khác"[26]
Mỹ viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa
Theo Cecil B. Currey, nếu bầu cử diễn ra thì "thắng lợi của Hồ Chí Minh sẽ như nước triều dâng không thể cản nổi". Ngô Đình Diệm chỉ có một lối ra là tuyên bố không thi hành Hiệp định Genève. Được Mỹ khuyến kích, Ngô Đình Diệm kiên quyết từ chối tuyển cử. Mỹ muốn có một chính phủ chống Cộng tồn tại ở Sài Gòn, bất kể chính phủ đó có tôn trọng nền dân chủ hay không[24]
Tháng 8-1955, Ngô Đình Diệm công khai bác bỏ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam theo tinh thần Bản Tuyên bố cuối cùng tại Hội nghị Genève. Để biến miền nam Việt Nam thành nước độc lập, tách ra khỏi Liên Hiệp Pháp, xóa bỏ mọi ảnh hưởng mang tính thực dân và đặc quyền của Pháp tại Việt Nam, ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức cuộc "trưng cầu dân ý" để phế truất Bảo Đại, lên làm Tổng thống. Ngày 26-4-1956, Pháp đã rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Từ ngày 28-4-1956 phái đoàn MAAG của Mỹ đã tham gia huấn luyện quân đội Sài Gòn.
Đầu năm 1957, Việt Nam Cộng hòa nộp đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Mỹ và các nước phương Tây ủng hộ việc này nhưng Liên Xô và một số nước thế giới thứ 3 phản đối, đơn xin bị phủ quyết.
Tính ra, từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa 7 tỷ đôla, trong đó viện trợ quân sự là 1.500 triệu đôla.[27] Trong những năm 1955-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla giúp trang bị cho các lực lượng thường trực quân Việt Nam Cộng hòa, gồm 170.000 quân và lực lượng cảnh sát 75.000 quân; 80% ngân sách quân sự của chế độ Ngô Đình Diệm do Mỹ viện trợ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Số viện trợ này giúp Quốc gia Việt Nam đủ sức duy trì bộ máy hành chính và quân đội khi không còn viện trợ của Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam dần thay thế chiến thuật và vũ khí của Pháp bằng của Mỹ.
Mỹ bắt đầu xây dựng các cơ sở quân sự quan trọng như các sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Sơn Trà, Vũng Tàu. Đến giữa năm 1956, Mỹ đã đặt ở Sài Gòn bốn phái đoàn: MAAG, TRIM, CATO, TERM và đến năm 1960 thêm hai phái đoàn: MSU và USOM. Riêng phái đoàn quân sự MAAG, năm 1954 có 200 cố vấn và nhân viên, đến năm 1960, con số đó đã lên đến gần 2.000 trong đó có 800 cố vấn quân sự.
Đầu năm 1961, khi vào Nhà Trắng, chuẩn bị công bố chiến lược "phản ứng linh hoạt", Tổng thống Kennedy tuyên bố: "Bây giờ đây, chúng ta có một vấn đề là phải làm cho thế giới tin vào sức mạnh của chúng ta, mà Việt Nam chính là nơi để thực hiện điều đó."
Nhưng suốt trong một thời gian tương đối dài, trong quan hệ đồng minh, Ngô Đình Diệm vẫn tìm mọi cách đấu tranh, hạn chế bớt sự lấn át của Mỹ khi Mỹ tỏ ra thiếu thiện chí hay muốn can thiệp quá sâu vào nội bộ miền nam Việt Nam. Năm 1963 xảy ra cuộc đảo chính của một nhóm tướng lĩnh không hài lòng với cách điều hành đất nước của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Nhiều nhà sử học cho rằng Mỹ ngầm can dự vào cuộc đảo chính này. Kết quả cả 2 anh em Diệm - Nhu bị quân đảo chính bắn chết.
Từ năm 1962, các chính quyền Mỹ luôn tuyên bố rằng nguyên nhân Mỹ có mặt tại Việt Nam chính là để "giúp miền Nam Việt Nam chống miền Bắc xâm lược", trong khi không nhắc đến sự trợ giúp của chính Mỹ cho Pháp trước đó. Số đông nhân dân Mỹ thường ghét áp bức, bất công và xâm lược, cách tuyên truyền đó nhiều lúc kích động được tâm lý của người dân Mỹ, đồng thời cũng làm cho nhiều người trong chính giới Mỹ ủng hộ các chính sách của chính phủ Mỹ tại Việt Nam.
Giai đoạn Mỹ trực tiếp tham chiến (1964 - 1973)
Bài chi tiết: Chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh
Liền sau đó, một loạt các thất bại của quân lực Việt Nam Cộng hòa trong Chiến tranh đặc biệt cho thấy chế độ Việt Nam Cộng hòa không thể đẩy lùi lực lượng vũ trang của quân Giải phóng ra khỏi miền Nam Việt Nam, dù đã được Mỹ viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (thời giá của năm 1960) và gần 23.000 cố vấn quân sự. Tình hình chính trị nội bộ Việt Nam Cộng hòa cũng lục đục, tổng thống Ngô Đình Diệm bị quân đảo chính giết chết, liền sau đó là 14 cuộc đảo chính quân sự khác chỉ sau một năm rưỡi. Sự kình chống nhau dữ dội của các tướng lĩnh khiến hệ thống chính trị và quân sự của Việt Nam Cộng hòa suy yếu. Bên cạnh đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tăng cường viện trợ hàng ngàn tấn vũ khí,[28] và hàng chục ngàn người cho lực lượng quân Giải phóng miền Nam.[29] Các khu Ấp chiến lược liên tiếp bị phá, quân đội Việt Nam Cộng hòa dần bị đẩy khỏi nhiều vùng nông thôn và phải lui về phòng ngự co cụm ở các vùng đô thị.
Tới năm 1964, trước việc chính phủ và quân đội Việt Nam Cộng hòa ngày càng lâm vào thế yếu và có nguy cơ sụp đổ và nhất là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hỗ trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam về mọi mặt, Mỹ phải đề ra một chiến lược mới - Chiến tranh cục bộ. Mỹ sẽ trực tiếp đem quân viễn chinh tới Việt Nam để tham chiến, chấm dứt sự can thiệp hạn chế ở mức cung cấp viện trợ và cố vấn như trong các giai đoạn trước đó.
Giai đoạn Mỹ giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa (1974 - 1975)
Đánh giá
Quan điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam
Theo quan điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, Hoa Kỳ đã thi hành chính sách "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt" tương tự như Pháp đã làm trong Chiến tranh Đông Dương. Hoa Kỳ muốn dùng chiêu bài "quốc gia giả hiệu" để xây dựng bộ máy chính quyền tay sai bản xứ nhằm dập tắt đấu tranh cách mạng ở nông thôn, lập ấp chiến lược để dồn dân, chiếm đóng, khống chế quần chúng. Hoa Kỳ thí nghiệm cuộc chiến tranh đó để rút kinh nghiệm đàn áp các phong trào giải phóng dân tộc, đe doạ các nước mới giành được độc lập, bắt các nước đó phải chấp nhận chủ nghĩa thực dân mới mà Hoa Kỳ áp đặt.[30] Do vậy các chiến lược chiến tranh của Hoa Kỳ đã vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của người dân miền Nam nên đã phá sản.[31] Lực lượng vũ trang của quân Giải phóng có thể đánh nhiều trận táo bạo, có hiệu suất cao cũng là nhờ có sự hỗ trợ của nhân dân miền Nam.[32] Vùng quân Giải phóng kiểm soát nhờ đó được mở rộng, chiếm phần lớn lãnh thổ miền Nam, trở thành hậu phương trực tiếp và vững chắc giúp họ đương đầu được với quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa.[33]
Viết trên bài chính luận "Sách Trắng của Mỹ" trên báo Nhân dân (số 3992) nhằm phản đối việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
"Ở Hội nghị Giơnevơ, Chính phủ Mỹ đã tuyên bố rằng: Mỹ sẽ không đe doạ hoặc dùng vũ lực cản trở Hiệp định ấy. Nhưng chữ ký chưa ráo mực thì Mỹ đã dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Mỹ nặn ra chính phủ bù nhìn phát xít Ngô Đình Diệm, huấn luyện cho nguỵ quyền một quân đội lính đánh thuê khát máu. Suốt mười nǎm trời, gần 20 vạn đồng bào miền Nam yêu nước đã bị Mỹ - Diệm khủng bố, tù đày, chặt cổ mổ bụng. 70 vạn người đã bị tra tấn giam cầm trở nên tàn phế. Hàng triệu người bị nhốt vào các trại tập trung mà chúng gọi là "ấp chiến lược". Không gia đình nào không có người bị hy sinh. Không làng xóm nào không bị càn quét. Đế quốc Mỹ và bọn tay sai đã phạm hết mọi tội ác dã man, chúng đã biến miền Nam thành một địa ngục.
Hoa Kỳ bên nớ, Việt Nam bên ni, cách nhau hơn hai vạn dặm. Đế quốc Mỹ có quyền gì mà đã phái đến miền Nam gần 3 vạn binh sĩ, 25% tổng số sĩ quan của quân đội Hoa Kỳ, hơn hai tá tướng lĩnh, xây dựng 11 cảng quân sự với hơn 800 tàu chiến các loại và 169 sân bay với 2.000 chiếc phi cơ. Hãng AP Mỹ (26-12-1964) thú nhận rằng bình quân mỗi tháng chỉ loại máy bay A-1 Skyraider đã dội 6.500 tấn bom tàn phá các làng mạc miền Nam. Hãng Anh Roitơ (7-1964) cho biết rằng nǎm 1963, máy bay Mỹ đã đi khủng bố 30 vạn chuyến. Tóm tắt mấy việc nói trên đủ vạch rõ đế quốc Mỹ là kẻ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược....
Đế quốc Mỹ và lũ tay sai gây chiến tranh phi nghĩa chống lại toàn dân ta, cho nên chúng nhất định thất bại. Buộc phải chiến tranh để bảo vệ Tổ quốc, nhân dân Việt Nam nhất định thắng lợi. Nhất định thắng lợi vì chúng ta có chính nghĩa; vì chúng ta đoàn kết một lòng, kiên quyết kháng chiến; vì chúng ta được sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng chính nghĩa khắp thế giới - kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ... Đế quốc Mỹ chỉ có thể chọn một trong hai con đường: Hoặc là chuẩn bị tinh thần chờ đón một trận Điện Biên Phủ, hoặc là thi hành đúng Hiệp định Giơnevơ nǎm 1954, tức là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam và đình chỉ khiêu khích miền Bắc, rút hết quân đội và vũ khí về Mỹ, để nhân dân miền Nam tự giải quyết việc nội bộ của mình. Nếu đế quốc Mỹ theo con đường thứ hai, nhân dân Việt Nam sẽ sẵn sàng hoan tống họ một cách lịch sự..[34]
Quan điểm của chính quyền Mỹ
Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc vào năm 2010 cũng viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam... Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ"[35]
Robert S. McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, một trong những người góp phần hoạch định chính sách Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã thừa nhận rằng: "Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi đã mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy". Và, Mc.Namara cho nguyên nhân sai lầm đó là vì Mỹ "đã hiểu sai thậm tệ những mục tiêu của Trung Quốc và lầm lẫn cho rằng những ngôn từ hiếu chiến của nó hàm ẩn động cơ giành bá quyền khu vực. Chúng tôi cũng hoàn toàn đánh giá thấp khía cạnh dân tộc chủ nghĩa trong phong trào Hồ Chí Minh."[36]
Trung tướng Bernard Trainor, từng phục vụ ở Việt Nam hai lần, của cả hai loại hình Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ, so sánh cuộc chiến ở Việt Nam với cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ: "Nhiều người nói rằng chúng ta phải ném bom để đưa miền Bắc về lại thời kỳ đồ đá. Ở mức độ nhất định, chúng ta đã đạt được hiệu quả này, nhưng họ vẫn tiếp tục chiến đấu. Có ném bom nữa cũng không ăn thua gì. Tôi thấy cuộc kháng chiến của Việt Nam có nét tương đồng với cuộc Cách mạng của Mỹ. Cũng như các nhà cách mạng Mỹ thời đó, người Việt quyết chiến đến cùng. Những người dân Mỹ hồi đó đã đi tới một quyết định rằng độc lập là thiết yếu. Họ đặt cược tính mạng và của cải của mình vào sự nghiệp giành độc lập... Hy vọng ban đầu là thu phục trái tim khối óc của người dân, nhưng hy vọng này đã bị tan tành bởi thất bại của chính quyền Sài Gòn trong việc giành tín nhiệm của dân và chiến lược Tìm và diệt của Westmoreland…".[37]
Quan điểm của một số học giả Mỹ
Tranh châm biếm cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam: "Chúng tôi đem tới dân chủ. Nhắc lại theo tôi nào: D-Â-N-C-H-Ủ"
Năm 1972, Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Mỹ quyết định tổ chức một cuộc báo cáo điều trần về cuộc chiến tranh Việt Nam suốt ba ngày liền, (9, 10, 11-5-1972) xoay quanh chủ đề nguồn gốc, nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam và những bài học rút ra từ đó. Bốn học giả có tên tuổi đại diện cho phong trào phản chiến Leslie Gelb, James Thomson, Arthur Schlesinger và Noam Chomsky được coi là những người am hiểu tình hình đã từng nghiên cứu nhiều về Việt Nam, được Quốc hội Mỹ mời đến báo cáo góp ý kiến cho Quốc hội về cuộc chiến tranh Việt Nam.
Đánh giá chế độ Việt Nam Cộng hòa, giáo sư ngôn ngữ học Noam Chomsky của học viện MIT đã nói trước Uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ rằng: "Chính phủ Nam Việt Nam đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ. Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp" [38]
Các giáo sư đánh giá: Ở Việt Nam, Mỹ đã gặp phải một đối phương không chịu chấp nhận chế độ thực dân mới, không chịu quỳ gối trước sức mạnh quân sự Mỹ. Ngoài ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, người Việt Nam còn sáng tạo ra một đường lối, chiến lược và biện pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh để phát huy sức mạnh đánh thắng kẻ thù. Giáo sư Noam Chomsky nhận định: Đối phương đã tìm ra "một chiến lược khôn khéo đến mức nguy hiểm để đánh bại Mỹ", giám đốc Phân tích Hệ thống đã cảnh báo "Trừ khi chúng ta nhận ra và chống lại nó ngay bây giờ nếu không chiến lược đó sẽ trở thành phổ biến trong tương lai. Chiến lược đó là tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dựa trên nguyện vọng của nông dân Việt Nam muốn độc lập và công bằng xã hội. Nước ngoài không bao giờ có thể địch nổi chiến lược đó" (trang 91) [38]
Nói về nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam, các học giả trên đã bác bỏ lý do của chính quyền Mỹ dựng lên là "chống miền Bắc Việt Nam xâm lược", Arthur Schlesinger khẳng định: "Thật là sai lầm khủng khiếp, nếu coi Hà Nội và Việt cộng là mũi lao xâm lược". Noam Chomsky kết luận: "Chính Mỹ đã đẩy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào vòng chiến". [38]
Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm "Con rối Sài Gòn"
Leslie Gelb nhấn mạnh dứt khoát rằng "lời giải thích thoả đáng duy nhất là đối phương vẫn tiêu biểu cho chủ nghĩa dân tộc và nền độc lập của họ, Mỹ phải chịu trách nhiệm đặc biệt về cuộc chiến tranh này và về việc kéo dài chiến tranh". Arthur Schlesinger lập luận, "sở dĩ có cuộc chiến tranh này là vì chính sách áp đặt những sở thích của chúng ta cho người khác". Do đó, "nếu người Việt Nam không coi trọng sự khôn ngoan của chúng ta, thế là chúng ta quyết định dùng sức mạnh ưu thế của mình để bắt họ phải làm theo ý muốn của chúng ta". Trước Quốc hội, các học giả Mỹ kết luận: nguyên nhân cuộc chiến tranh Việt Nam là bắt nguồn từ chiến lược và chính sách xâm lược của Mỹ. Điều đó coi như đã được xác nhận từ phía những nhà nghiên cứu Mỹ.
Nhà sử học Frances FitzGerald viết: "Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam - người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ rồi phản bội"[39]
Theo một góc nhìn khác, tiến sĩ Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc và là cố vấn Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong buổi phỏng vấn với CNN và trong sách "Những Bí mật về Chiến tranh Việt Nam" đã viết: "Không hề có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ... Cuộc chiến đó không có gì là "nội chiến", như nó đã không là nội chiến trong cuộc tái chiếm thuộc địa của Pháp được Mỹ ủng hộ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì không phải là một cuộc nội chiến... Theo tinh thần Hiến chương Liên Hiệp Quốc và theo những lý tưởng mà chúng ta (nước Mỹ) công khai thừa nhận, đó là một cuộc ngoại xâm, sự xâm lược của Mỹ"[40] Theo ông nguyên nhân sâu xa của việc Mỹ áp đặt sự chiếm đóng lên miền Nam Việt Nam là để điều khiển và kiểm soát thị trường kinh tế, nhân lực, sức lao động và tài nguyên ở vùng Đông Nam Á[41]
Sử gia Jonathan Neale cũng đồng ý lập luận này và cho rằng chính sách chống Cộng của chính phủ Mỹ chỉ là để phục vụ cho quyền lợi của những tập đoàn tư bản Mỹ.[42]
Neil Sheehan - nhà báo Mỹ, một trong những người phanh phui Tài liệu mật Lầu Năm Góc ra trước công luận đã nhận định rằng: "Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc" [43]
Quan điểm của giới chức Việt Nam Cộng hòa
Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từng phát biểu: "Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!".[44] Trong bài viết "30/4/1975, Dương Văn Minh và tôi", Nguyễn Hữu Thái thuật lại lời Tổng thống Dương Văn Minh đã nói với ký giả Francois Vanuxem: "Hết Tây (Pháp) rồi đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao!".[45]
Năm 2005, khi về VN và trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên, Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã nhận định rằng: "Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê.".[46] Đại tướng Cao Văn Viên thì viết: "Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ làm theo họ mà thôi!". Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thì nói: "Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay... Người Mỹ họ có đường lối của họ: đó là họ phải nắm chỉ huy ở miền Nam này. Họ chỉ huy trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao Mỹ đều nắm hết."[47]
Nguyễn Tiến Hưng, bộ trưởng kinh tế Việt Nam Cộng hoà nhận xét:
“ Tôi cũng đồng ý với câu phương châm "tiên trách kỷ, hậu trách nhân" của người xưa. Trước những thất bại, ta phải tự trách mình trước. Về chính trị, các bình luận gia thường nêu lên những yếu kém, khuyết điểm của lãnh đạo và nhân dân Miền Nam. Lãnh đạo thì độc tài, thiếu khả năng, quá tin vào Mỹ, tham nhũng, có khi còn xa hoa quá mức. Nhân dân thì chia rẽ, một phần thì thờ ơ, chống đối, chán chường một cuộc chiến dài lê thê.
Tất cả những nhận xét trên, không ít thì nhiều đều có phần xác đáng. Tuy nhiên, sau khi theo rõi cuộc chiến nhiều năm, trước hết là từ ngay trên đất Mỹ (vào những năm 1958-1972), cũng như đã được chứng kiến những sự việc ở hậu trường trong ba năm cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (1973-1975), rồi nghiên cứu thêm từ đó, tôi vẫn khẳng định rằng sự lệ thuộc vào Hoa Kỳ gần như hoàn toàn, cả về vật chất lẫn tâm lý đã là yếu tố quyết định (cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà).
Về mặt kinh tế, khi chiến tranh leo thang, sản xuất trong nước không phát triển được, lại còn tụt hậu, cung ứng cho nhu cầu của nhân dân phải dựa vào đôla của Mỹ để nhập cảng. Những sản phẩm cho nhu cầu từ ăn, ở, mặc, tới vận chuyển, một tỷ lệ rất quan trọng được đáp ứng từ viện trợ Mỹ... về vật chất, sự lệ thuộc đã hầu như là toàn diện. Tình trạng này lại còn dẫn tới sự lệ thuộc về tinh thần và tâm lý. Nếu Mỹ còn giúp, thì các nhà lãnh đạo và quân đội Việt Nam Cộng hoà còn chịu đựng, chiến đấu. Nếu có dấu hiệu là Mỹ bắt đầu bỏ, thì tinh thần bắt đầu sa sút. Tới lúc bỏ thật là sụp đổ
...Về chính trị, phía Mỹ luôn chủ động như vậy, còn về quân sự? Ngay từ lúc Mỹ mới nhúng tay vào Miền Nam cũng đã có sự bất đồng về chiến thuật giữa Cố Vấn Mỹ và Tướng lãnh Miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở Miền Nam, Tướng O'Daniel đã nói toạc ra là "Ai chi tiền thì người đó chỉ huy" (who pays, commands)...[48] ”
Nguyễn Văn Ngân, nguyên trợ lý đặc biệt của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu, đã nhận xét: "Người Mỹ đã thay thế Pháp với chính sách thực dân mới. Vào thế kỷ 19, người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt trong việc thiết lập một "tiền đồn chống Cộng" tại Đông Nam Á. Người Mỹ đến Việt Nam không vì quyền lợi người Việt Nam mà vì quyền lợi người Mỹ. Nền dân chủ mà người Mỹ tán dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chính và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ. Chính sách viện trợ hoàn toàn có tính cách tiêu thụ đã được sử dụng như lưỡi gươm Damoclès... chỉ nhằm mục đích làm tê liệt ý chí đề kháng và nô lệ hóa…".[49]
Văn hóa đại chúng
Trong bộ phim Forrest Gump, nhân vật chính là một người thiểu năng trí tuệ. Tuy vậy khi sang Việt Nam chiến đấu, anh lại trở thành anh hùng khi cứu được trung đội trưởng thoát chết sau 1 trận đánh. Khi trở về, anh lại tham gia phong trào phản chiến cùng người yêu. Bộ phim đã kể lại một giai đoạn đầy biến động trong lịch sử nước Mỹ qua góc nhìn ngây thơ và trong sáng của một người chỉ có IQ 75.
Trong bộ phim X-Men Origins: Wolverine, nhân vật chính Victor Creed (anh trai người sói) và chính Người sói từng sang Việt Nam chiến đấu. Khi chỉ huy ngăn Victor Creed hãm hiếp 1 bé gái, Victor Creed và người sói đã tức giận giết chết chỉ huy và bị tòa án quân sự tuyên án tử hình, nhưng mọi cách xử tử đều không thể giết được họ.
Trong bộ truyện tranh Watchmen, tổng thống Nixon đã mời tiến sĩ Manhattan (một siêu nhân có năng lực khủng khiếp) can thiệp vào Chiến tranh Việt Nam và giúp quân đội Mỹ giành chiến thắng. Việt Nam sau đó đã trở thành Tiểu bang thứ 51 của Mỹ.

Chú thích

^ Atlantic Charter, AUGUST 14, 1941, Lillian Goldman Law Library
^ Hiến chương Đại Tây Dương, Báo Sự Thật, Số 32, 20 Tháng Tư 1946
^ “Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng”. Truy cập 7 tháng 2 năm 2015.
^ Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs, United States Department of State, trích:"While the United States generally supported the concept of national self-determination, it also had strong ties to its European allies, who had imperial claims on their former colonies. The Cold War only served to complicate the U.S. position, as U.S. support for decolonization was offset by American concern over communist expansion and Soviet strategic ambitions in Europe. Several of the NATO allies asserted that their colonial possessions provided them with economic and military strength that would otherwise be lost to the alliance. Nearly all of the United States' European allies believed that after their recovery from World War II their colonies would finally provide the combination of raw materials and protected markets for finished goods that would cement the colonies to Europe."
^ Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng thống Truman
^ a ă Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs, United States Department of State
^ Schrecker, Ellen (2002). The Age of McCarthyism: A Brief History with Documents (2d ed.). Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-29425-5. p. 63–64
^ Ellen Schrecker, THE AGE OF MCCARTHYISM: A BRIEF HISTORY WITH DOCUMENTS, The State Steps In: Setting the Anti-Communist Agenda, trích "These actions--most important the inauguration of an anti-Communist loyalty-security program for government employees in March 1947 and the initiation of criminal prosecutions against individual Communists--not only provided specific models for the rest of the nation but also en